Phương pháp ECMO ra đời đã cứu sống nhiều bệnh nhân suy tim cấp, hô hấp cấp nặng không đáp ứng với thở máy. Vậy ECMO là gì? Ngày nay, ECMO được sử dụng như thế nào trong điều trị Covid? Chúng ta cùng tìm hiểu thông tin trong bài viết dưới đây nhé.

ECMO là gì?

ECMO (Extracorporeal Membrane Oxygenation) là một phương pháp oxy hóa màng ngoài cơ thể. Phương pháp này được sử dụng trong hô hấp nhân tạo khi tim hoặc phổi, hoặc cả hai, không hoạt động bình thường. Các bác sĩ có thể sử dụng công nghệ ECMO để thay thế tim và phổi trong thời gian ngắn.

Khi nào thì cần có ECMO?

Phương pháp tim phổi nhân tạo ECMO là cung cấp đủ oxy cho cơ thể người bệnh. ECMO, mặc dù không phải là phương pháp chữa trị bệnh tim mạch của bệnh nhân, nhưng có thể giúp họ vượt qua nó. Điều trị bệnh tim phổi, kết hợp với liệu pháp nhân quả, có thể giảm việc sử dụng thuốc hỗ trợ tim và sử dụng máy hỗ trợ thở, do đó giảm nguy cơ chấn thương liên quan đến máy thở.

ecmo-la-gi-3-a9-athenacomplex

ECMO được sử dụng chủ yếu ở trẻ em, tuy nhiên vẫn có thể sử dụng bình thường cho bệnh nhân suy tim và suy hô hấp. Công việc của ECMO là đưa máu ra khỏi cơ thể, đồng thời giúp đưa carbon dioxide và oxy bổ sung vào các tế bào hồng cầu. Công nghệ ECMO được sử dụng cho bệnh nhân suy tim và suy hô hấp giai đoạn cuối.

Ngoài ra, nó có thể được sử dụng để kéo dài sự sống và giúp bác sĩ tìm ra nguyên nhân gây ngừng tim.

Dưới đây là một số tình huống cần xem xét khi sử dụng máy thở ECMO:

Sốc tim, ngừng tim

bệnh nhân suy hô hấp

Các vấn đề về tim sau khi phẫu thuật tim

Bệnh nhân được giữ sống bằng cách ghép tim, ghép phổi hoặc đặt thiết bị hỗ trợ tâm thất.

ECMO có thể được sử dụng để điều trị sốc nhiễm trùng

Hạ thân nhiệt ở những bệnh nhân có thân nhiệt từ 24-28 ° C và tim không ổn định hoặc thân nhiệt <24 ° C.

Các kỹ thuật ECMO phổ biến được sử dụng để điều trị Covid

Theo dược sĩ Đại học Y dược TP.HCM, hai loại ECMO phổ biến nhất là ECMO tĩnh mạch và ECMO tĩnh mạch.

Cả hai loại đều hoạt động bằng cách đưa máu từ hệ thống tĩnh mạch ra ngoài cơ thể sau đó bổ sung oxy để đưa trở lại cơ thể. Đối với ECMO tĩnh mạch, máu sẽ trở lại hệ thống động mạch, và đối với ECMO tĩnh mạch, máu sẽ trở lại tĩnh mạch. Trong số này, ECMO-tĩnh mạch chỉ được sử dụng để hỗ trợ hô hấp chứ không phải tim.

Tĩnh mạch-động mạch:

Kỹ thuật ECMO này sử dụng một ống thông tĩnh mạch đặt trong tĩnh mạch đùi trái hoặc phải để hút máu ra ngoài, và một ống thông động mạch được đưa vào động mạch đùi trái hoặc phải để giúp tĩnh mạch đưa máu trở lại cơ thể.

Tiêm tĩnh mạch:

Đối với loại ECMO này, một ống thông được đưa vào tĩnh mạch đùi để giúp thoát máu và tĩnh mạch cảnh trong bên phải để giúp máu trở lại. Ngoài ra, sau khi thở oxy, một ống thông thứ hai được đưa vào tĩnh mạch chủ trên cùng với tĩnh mạch chủ dưới để thoát máu và sau đó đưa nó trở lại tâm nhĩ phải.

Một số biến chứng của điều trị ECMO.

Thần kinh

Điều trị bằng ECMO ở người lớn thường dẫn đến tổn thương thần kinh. Nó được hiểu là tình trạng xuất huyết khoang dưới nhện, thiếu máu cục bộ, nhồi máu các vùng nhạy cảm của não, hôn mê không rõ nguyên nhân, thiếu oxy và chết não. Khả năng chảy máu khoảng 30 – 40% do truyền liên tục thuốc chống đông có chứa heparin, có thể dẫn đến rối loạn chức năng tiểu cầu. Biện pháp phẫu thuật là duy trì số lượng tiểu cầu lớn hơn 100.000 / mm3.

Máu:

Giảm tiểu cầu trong máu là do heparin chống đông máu, vì vậy nên dùng các thuốc không chứa heparin. Dòng máu ngược dòng đi xuống xảy ra đồng thời trong động mạch chủ mặc dù tĩnh mạch và động mạch đùi được nối với máy ECMO.

Sinh non:

ECMO không nên được sử dụng để hỗ trợ sự sống cho trẻ sơ sinh dưới 32 tuần vì nguy cơ xuất huyết nội sọ rất cao.

Các biện pháp phòng ngừa khi sử dụng ECMO

VV ECMO được sử dụng cho bệnh nhân suy hô hấp, trong khi VA ECMO được sử dụng cho bệnh nhân suy tim.

Đối với kỹ thuật VV ECMO, vận tốc máu càng cao càng tốt vì nó giúp hỗ trợ quá trình trao đổi oxy. Với VA ECMO, tốc độ máu phải đủ cao để có đủ áp lực và độ bão hòa oxyhemoglobin trong tĩnh mạch, nhưng đủ cao để đảm bảo đủ lưu lượng máu.

Nếu bệnh nhân bị ứ dịch, điều trị bằng thuốc lợi tiểu tích cực cho đến khi khí ổn định trên ECMO. Ngược lại, siêu lọc được sử dụng ở những bệnh nhân đang duy trì sự sống trên ECMO.

Khi máu rời khỏi tâm thất trái, một cục huyết khối có thể hình thành do chức năng của tâm thất trái bị suy giảm.

Các phép đo độ bão hòa oxy được thực hiện sau khi bệnh nhân được rút hoàn toàn khỏi tĩnh mạch.

Những rủi ro khi sử dụng máy ECMO?

Các biến chứng nghiêm trọng có thể phát sinh khi sử dụng kỹ thuật ECMO trên bệnh nhân. Do đó, cần có bác sĩ trực để được chăm sóc và theo dõi kịp thời:

ecmo-la-gi-3-a10-athenacomplex

Sự chảy máu:

Chảy máu từ các bộ phận khác nhau của cơ thể có thể do thuốc chống đông máu khi sử dụng máy ECMO. Chảy máu nghiêm trọng nhất xảy ra ở các vị trí não, phổi, dạ dày hoặc ống thông.

Chấn thương bàn chân:

Ở những bệnh nhân được kết nối với máy ECMO qua động mạch hoặc tĩnh mạch ở đùi, lưu lượng máu đến chân có thể bị giảm và mô ở chân có thể chết. Khi điều này xảy ra, bác sĩ sẽ khôi phục lại sự tưới máu cho chân. Do đó, cần thay đổi vị trí đặt ống thông sang vị trí khác trên cơ thể. Nếu vết thương ở chân quá nặng, bệnh nhân sẽ phải phẫu thuật và có thể phải cắt cụt chi.

Bệnh thận mãn tính:

Điều trị cho bệnh nhân bằng hệ thống ECMO có thể không cung cấp đủ lưu lượng máu qua thận. Đây là nguyên nhân khiến thận ngừng hoạt động, còn được gọi là “suy thận cấp tính”. Nếu thận ngừng hoạt động, các bác sĩ chỉ định chạy thận nhân tạo hay còn gọi là lọc máu. Thận bị hỏng có thể được sửa chữa, nhưng trong một số trường hợp, phải lọc máu suốt đời.

Nhiễm trùng:

Một ống thông từ bên ngoài cơ thể bằng máy ECMO vào máu bệnh nhân. Điều này làm tăng nguy cơ nhiễm trùng vì những ống dẫn này là đường dẫn mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể. Tình trạng này có thể đến phổi hoặc bất kỳ cơ quan nào khác trong cơ thể và có thể được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, khi kết hợp với máy ECMO, nó có thể làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh và làm tổn thương các cơ quan.

Đột quỵ:

Bệnh nhân sử dụng máy ECMO có thể không được cung cấp đủ máu đến các vùng nhất định của não do các cục máu đông nhỏ. Tình trạng này khiến bạn có nguy cơ bị đột quỵ, khi đó một vùng não có thể bị tổn thương vĩnh viễn. Các triệu chứng đột quỵ tương ứng xuất hiện ở các vùng não bị tổn thương. Người đó có thể không cử động được một số bộ phận của cơ thể hoặc thậm chí không thể nhớ, nhìn, nói, đọc hoặc viết. Trong một số trường hợp, một số chức năng có thể được phục hồi sau đột quỵ, nhưng trường hợp này rất hiếm. Tin tốt là đột quỵ là rất hiếm, với bệnh nhân sử dụng máy ECMO ít hơn 5% thời gian.

Những thông tin trên nhằm giải đáp thắc mắc ECMO là gì và những thông tin hữu ích về nó. Đừng quên theo dõi những bài viết tiếp theo để cập nhật những tin tức hữu ích khác.